Tội Ác Cộng Sản
Search
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

September 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 

Calendar Calendar


CÁI CHẾT CỦA SỬ GIA PHẠM VĂN SƠN

View previous topic View next topic Go down

CÁI CHẾT CỦA SỬ GIA PHẠM VĂN SƠN

Post by Tự Do on Mon Feb 15, 2016 12:07 pm

CÁI CHẾT CỦA SỬ GIA PHẠM VĂN SƠN

Nguyễn Văn Dưỡng

Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.

Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến 1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lý Cây Mai; tôi mang cấp bực Trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính trong thời gian này, ông đã tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản.

Những thì giờ nhàn rỗi, tôi đã tình nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu đến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia -- lúc đó còn nằm trên đường Gia Long -- để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệụ Ông Lê Ngọc Trụ còn là một học giả, giảng sư Ngữ học của I.a.i học Văn khoa Saigon, đã chỉ dẫn cho tôi tìm được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đã học được ở ông nhiều điều về viết lách.

Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ còn là trường Quân Báọ Ngành Chiế Tranh Tâm Lý tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Tri.. Sau đó không lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực VNCH, thuộc Bộ Tổng Tham Mưụ Ông lần lượt được thăng đến cấp I.a.i tá và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam sụp đổ.

Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và và dưới sự chỉ đạo của người viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực VNCH đã viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đị Tôi nghĩ như vậy vì tôi biết ông PVS rất thận trọng, không thể khinh xuất trong nhiệm vụ của mình và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông thường bảo tôi :"Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy thì những điều mình viết về sử mới mong có thêm một chút giá trị Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài liệu có độ xác tính cao nhiều chừng nào thì việc so sánh, nghiên cứu, lượng giá, đối chiếu...dễ chừng nấy". Ịó là lề lối làm việc nghiêm cẩn, thận trọng của ông. Vì vậy sau này, năm 1972, tôi đã không ngạc nhiên khi chiến trường An Lộc còn đang sôi động với những trận đánh đối tuyến chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố -- giữa các đơn vị VNCH và quân CS Bắc Việt -- khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không sợ tan xác,tôi đã thấy ông hiện diện ở chiến trường này để tìm hiểu sự thật viết về trận chiến khốc liệt đó.

Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Phòng 2 của Bô Tư Lệnh Hành Quân của tướng Lê Văn Hưng, đã cung cấp cho ông những tài liệu, sự kiện "sống" nóng bỏng, chính xác và đầy đủ. Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đã ở lại trong hầm chống pháo với tôi một đêm, thức trắng để nghe tiếng đạn pháo của địch quân rơi trên đầu mình và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật ký hành quân (mỗi phòng của Bộ Tư Lịnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt được trong các trận đánh trước ở đó.

Sau khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu để gặp ông thì được biết ông đã ra Quảng Trị để làm nhiệm vụ như đã làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban Quân Sử đã hiện diện ở khắp chiến trường lớn để tìm sự thật viết về binh sử...

Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn hình dung được tư cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông PVS, một người đã thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù, dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.

Ngày 30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi hiến định, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức tử, buông súng, tan rã. Một số tướng lãnh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn tiết. Tất cả những sĩ quan còn lại ở miền Nam vào lúc đó, bị dồn vào các trại tập trung tạm trong lãnh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy cảnh sát, công chức cao cấp và các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng phái miền Nam.

Một năm sau, CS đưa tất cả những người mà họ gọi là có "nợ máu" nhiều nhất với nhân dân miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở những trại giam trong rừng sâu nước độc của Thượng du và Trung du Việt Bắc. Một số sĩ quan và công chức khác còn bị giam giữ ở các trại cải tạo miền Nam.

Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi, bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhỏ. loại chuyên chở của quân đội CS. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này thì bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc.

Ngày 15/6/76 -- ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù -- đúng một năm sau ngày tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở Gò Vấp -- trên chuyến tàu hỏa nói trên, qua một kẻ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đã nhìn thấy nhà thương Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đã được đọc qua trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Ịoàn, thuở tuổi học trò. 2 sĩ quan tù nhân cấp Tá đã ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quãng giữa đường Việt Trì - Yên Báị Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những chuyến tàu định mệnh này đã ngã xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn không còn thấy được những chuyến tàu xuôi Nam...Trong số những người này có I.a.i Tá Phạm Văn Sơn.

Một số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống ga Yên Bái, trong số đó có tôị Từ ga Yên Bái, bộ đội CS dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam giữ ở các trại giam dành cho quân nhân. Tôi ở đó được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2 năm nữạ

Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao lâu, tất cả chúng tôi -- những tù nhân chính trị -- ở những trại giam trên các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam I.i.nh), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh),...

Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đã cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đã đói càng đói hơn, mỗi người không có được đến 4 dm2 để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao động nặng nhọc, nên phòng giam nào cũng hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở, bao nhiêu chứng bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đã bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men không có để trị, mạng sống của mọi người cũng bị Tử Thần rình rập từng ngày từng đêm.

Da số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế, bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá công an Nguyễn Thủy, một tên cán bộ chữ nghĩa viết chưa hết một lòng bàn tay nhưng vẫn thích đọc thơ Tố Hữu và Huy Cận trước mặt anh em tù nhân, trong khi lòng dạ lại hiểm độc vô lường...

Tân Lập là một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lô, chảy qua xã Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Tôi đến Tân Lập ngày nào năm đó, đã không còn nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đã bắt đầu trở lạnh; dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra những bãi vắng trên sông này để tắm trước khi về trạị Chính ở các bãi tắm này chúng tôi mới thấy hình hài khốn khổ của nhau, vì mọi người đều trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về người ngợm còn chút thịt da, thì, những anh em tù đã ở trại giam K2 Tân Lập từ mấy năm trước thân thể chỉ còn da bọc xương, đến 2 bên mông là nơi lý ra phải còn có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông thật thảm nãọ Khi tắm ai cũng rét run, vì cái lạnh của trời và nước làm cho mọi người thấu buốt ruột gan...bởi trong người không còn năng lượng để kháng nào nữạ

Tôi nói lên những điều này để chỉ rõ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà chúng tôi đã trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ khiến cho tù nhân chết mỏi mòn vì kiệt sức, vì bệnh hoạn hay vì những lý do mờ ám khác nữạ Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nàọ Ở Tân Lập, bọn công an Nguyễn Thùy đã làm hơn những điều chúng tôi nghĩ, đã biết. Vì thế các tù nhân chính trị chết trong các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại K2, mấy tháng mùa đông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là bệnh, để khỏi đi lao động, được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc...

Tại K2 Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đã gặp lại ông Phạm Văn Sơn.. Tôi đã nhìn thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối cùng của đời ông.

Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt mình nhận cơm, tôi đã vơ vẫn đến bên ngoài hành lang của một căn phòng nhỏ cạnh phạn xá, tôi thấy một người, đã nhận ra ông mà cứ ngỡ là đôi mắt mình đã nhìn lầm.

Ông chính là Dại tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôị Ông chỉ còn là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín sau chân song sắt, bên trong cửa sổ của căn phòng "cách ly", duy đôi mắt hiền hòa thì vẫn tinh anh như thuở nàọ Rõ ràng ông hiện hữu như một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nhìn ngắm mọi sự vật đổi thay, quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ý nghĩ sâu sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức, vì chính đôi mắt nhìn lắng sâu, và sáng kia là "cửa sổ linh hồn ông", cho tôi biết điều đó.

Tôi nhìn ông và ông nhìn tôị Trong một thoáng, quá khứ như chổi dậy; không biết vì mừng rỡ hay vì ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buộc miệng gọi lên :

- "Thầy" !

Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi ngườị

Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôị Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cườị Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nàọ

Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sổ. Chỉ chưa đầy một phút sau, cánh cửa ra vào của căn phòng nhỏ -- đang khép hờ -- mở rộng rạ Ông đứng ở ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của mình, một giang san thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô độc...

Với thế đứng vững vàng như vậy ông đã cho tôi ý nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là nơi ông đã tìm ra nguyên ủy, phương trình giải quyết và kết luận cho một nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều gì thật to tát trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn vì ngày xưa nhiều lần tôi đã nhìn vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những gì ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôị Ở lần gặp lại này, tôi cũng linh cảm được ý nghĩ của ông như thuở đó.

Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nhìn tôi khẽ lắc đầụ Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn bệnh ghê gớm đã và đang tàn phá cơ thể của ông.

Ông đứng thẳng, hai tay chập lại để trước người, những ngón tay đan chéo vào nhau, chỉ nhìn tôi không nói một lời nàọ Ngày đó, trời đã la.nh. Tuy nhiên, tôi nghĩ không phải vì trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông trắng đã trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mủ. Vòng khăn quấn kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở 2 bên má. Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ đã che bớt đi những vết lở lói trên mặt mình, bởi chứng bệnh nan y của ông.

Thân thể gầy gò nhưng cộm lên vì mặc nhiều lớp áo quần bên trong; bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà binh đã thật cũ, sờn rách một đôi nơị Chân được bó lại bằng những mảnh vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ.

Chỉ có một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông mang chứng lở lói bình thường mà tôi đã từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt đã ru.ng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đã co lại, móng tay nhiều ngón đã bị khuyết lại hay mất hết : ông bị chứng phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm tro.ng. Vì không có thuốc và vì điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh của ông phát triển rất nhanh. Dó là lý do tại sao chỉ mới đi tù trong vòng bốn năm năm ông đã trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt.

Có lẽ người ta gán cho ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại giam. Vả lại ông bị "cách ly", chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi người đã đi lao động, không còn ai trong trại, nên ít ai biết rõ. Nhưng chính ông, ông biết rõ bệnh trạng của ông.

Tôi nhìn ông thật lâu, trong lòng xót xa, không biết phải nói gì, làm gì. Vị sĩ quan cao cấp chững mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đã mang hình hài của một người tàn phế giống như một kẻ hành khất lở lói mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Dôi mắt tôi nói rõ sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trong môi, như ông muốn nói với tôi rằng :"Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đã vượt khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồị Anh đừng thương hại cho tôị"

Sau nụ cười là ánh mắt nhìn tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó của ông, tôi đã ghi nhận được sự thương xót của ông đối với tôị Hình như ông đã nhìn thấy lại người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, còn độc thân, mặt còn non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đã từng lúc làm ông hài lòng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảo...Ngày nay, hắn ta đã trở thành một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má hóp, mắt thâm vì những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa, hắn ta còn chưa biết phải làm gì trong cảnh tù đày và trong tương laị

Tôi chưa biết nói gì thêm, làm gì thêm ở buổi gặp lại ông trong hoàn cảnh khốn khổ đó, thì anh bạn cùng tôi đi lãnh cơm, tìm được tôi, thấy tôi đang đứng "nói chuyện" với Dại tá Sơn. Anh đến gọi tôi vì cơm anh đã lãnh xong để ngoài sân phạn xá.

Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào từ giã ông, không thấy ông trả lờị Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật lớn. Anh bạn nói với tôi :

- Dại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyển, bệnh tim, lao phổị Ông không hề nói chuyện với aị

Tôi trả lời ngắn : "Xếp cũ của tôị"

Suốt ngày hôm đó tôi thẫn thờ vì những ý nghĩ miên man trong đầu óc tôị Dêm đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày của chính bản thân tôị

Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi gặp lại lạ lùng này, ông đã nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông và tôị Tôi biết rõ ông đã vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cõi an bình nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Dấng Tạo Hóa về định mệnh của mình. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ còn là một người viết sử bình thường, một sĩ quan bình thường, mà đã trở thành một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông đã đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cõi VN.

Rõ ràng ông đã tìm được cho ông một lối thoát, sau khi đã trải qua đau khổ đến tột độ : thể xác nứt nẻ, nhức nhối vì bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu đựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng...Dù sao thì ông cũng đã vượt thoát được đau khổ và tìm ra cho mình một con đường.

Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông còn hơi thở, thì biết đâu khối óc phong phú và tĩnh đạt của ông sẽ không giúp ông trở nên bất tử trong lòng mọi người, vì những điều chứa đựng trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử VN -- trong thế hệ chúng ta -- một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy gẫm nhất vì sao chúng ta đã đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh tàn khốc dai dẳng vừa quạ Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho chúng ta một triết lý nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả dĩ giúp được nhiều người tìm ra sự an bình trong tâm hồn ở cuộc sống nhiều đau thương nàỵ

Tôi yên tâm phần nào về ông, vì tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân mình.

Còn tôi, ông đã nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, vì ông đã biết rõ tôi đã và đang còn mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong lưu đàỵ Tôi chưa nghĩ gì cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị đói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy của tôi là một thứ bong bóng.

Tôi phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và tìm cho mình một con đường thích hợp nhất mà bước đị

Từ ngày đó tôi định bụng hôm nào thuận tiện tôi sẽ đi tìm ông, vì ông ở phòng "cách ly" không phải lúc nào cũng tự tiện mà dến được, bọn cán bộ cấm ngặt mọi tù nhân đến đó.

Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại, tôi đi theo các bạn lãnh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn phòng cách ly mong nhìn thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không. Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đã thấy ông sau xong cửa sổ, mắt đang nhìn ra xa xôi cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt ông. Tôi muốn nhìn ông cho rõ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lạị Một chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt trời chiều đã xuống thấp, nắng đã nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng hồng, còn vơ vẩn, rồi bị gió xé nát rạ Tôi chợt thấy ông rùng mình.

Tôi tự nghĩ : Chẳng lẽ mình nhầm hay sao khi nhận xét về ông ở buổi đầu tiên. Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân, trước hành lang, chào ông và khẻ hỏi :

- Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không ?

Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lờị Dôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôị

Thôi, Thày ơi ! Tôi đã hiểu rồị Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôị Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.

Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không ? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không ? Thôi thì tôi cứ nóị

Ông đã cãm nhận được định mệnh của ông rồị Hơn ai hết, ông hiểu rõ tình trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ mình như ráng mây mong manh kia, sẽ phải tan rã mất đi vội vàng. Thời gian quí báo không còn nữa đối với ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát rạ Bốn bức tường của nhà giam này thật cay nghiệt; cái hoài bão của ông, niềm ấp ủ đã hình thành trong tâm não ông cũng sẽ tan biến mà thôị Ông không sợ bản thân ông bị tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậỵ

Với ánh mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra hình như ông muốn ủy thác cho tôi một việc gì đó sau này -- khi tôi ra khỏi 4 bức tường của trại giam -- chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những gì mà ông muốn để lại cho những thế hệ tương laị

Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có thể hiểu tường tận những gì tách bạch định hình trong tư tưởng của ông.

Ông đã nghĩ gì, ông đã biết những gì -- hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc chiếc -- ông muốn viết những gì, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với bệnh tật, với chính mình bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn tủi nhục từ thể xác đến tâm não mới có được. Nó là của riêng ông. Làm sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn định; làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lờị

Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết một đôi điều, thì với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông, cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về những gì phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở thời đại nhiễu nhương nàỵ

Nếu tôi cần thời gian để có được những ưu điểm trên đây như ông, thì sẽ bao lâụ Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt, tôi cũng không có được.

Hôm trước tôi gọi ông bằng "Thầy" để tránh tiếng gọi bằng cấp bậc đã trở thành "không thích hợp" nữạ Hôm nay, tôi cũng gọi ông bằng chữ đó, cùng nghĩạ Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học trò của ông trên nhiều phương diện.

Tôi đành cam chịu sự bất lực rồị

Cái hy vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu biết trong trí não ông cũng không thể có, rồi cát bụi sẽ trở về với cát bụi mà thôi...Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôị

Ông nhìn tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đị

Tôi trở về phòng giam của mình với tâm trạng buồn bã, mệt mỏị Tôi muốn làm vui lòng cố nhân, muốn làm tròn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự ký ủy của ông.

Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ. Dù ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông đã cạn, ông biết ông sẽ không thể -- bằng cách nào đó, phổ cập được những gì đó thật hữu ích đã kết tinh trong não tủy của ông qua những tháng ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là ký thác những điều đó cho một ai đó có khả năng, cũng đã bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đã hoàn toàn, tất cả đã quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ còn Thượng Ịế là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôị Con người đã không còn trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, mãi mãi...

Sau đó không lâu, một buổi tối, bọn cán bộ trại tổ chức buổi chiếu bóng ngoài trời cho tất cả tù nhân xem ở cái sân rộng lớn giữa trạị Dêm ấy, trời đầy trăng sáng trong sương đêm loang loáng của mùa đông. Hơn 1,000 tù nhân được xếp hàng ngồi theo đội của mình trong sân. Tuy nhiên, mọi người khi cần thiết cũng có thể tách ra đứng lên đi tiểu ở một vài nơi mà CS đã chỉ định trước. Một nơi như vậy nằm bên trong bờ tường của phạn xá.

Dây là cơ hội may mắn cho tôị Khi phim chiếu được chừng một giờ -- phim gì đó, tôi không còn nhớ -- tôi đứng lên đi về phía ở bờ tường vào phạn xá, đến chỗ đi tiểụ Nhìn không có ai, tôi bước thêm mấy bước nữa, dừng lạị Chỗ tôi đứng chỉ còn cách căn phòng nơi ông ở không đầy 10 bước. Tôi không có ý định gặp ông, chỉ muốn nhìn thấy ông mà thôi, và tôi đã nhìn thấỵ Ông đứng bên trong cửa sổ, ở đó có ánh đèn le lói hắt ra, đang nhìn lên khung trời đầy ánh trăng bàng bạc trong sương. Giờ đó cũng gần khuya, ông vẫn thức, đứng nhìn trăng, nhìn trờị

Tôi đã hiểu rõ hơn tâm sự của ông. Tôi đứng nhìn ông một lúc khá lâu, rồi sợ bị bọn cán bộ bắt gặp, tôi quay trở ra về chỗ ngồi của các ban cùng đội và không xem gì được nữa ở những thước phim tuyên truyền còn lạị

Tôi lơ đãng ngắm nhìn những vì sao xa xa, ngắm vần trăng nhàn nhạt trên nền trời nhiều sương lành lạnh, diệu vợi, buồn man man.

Dêm trăng là khung trời của Hàn Mặc Tử, vầng trăng và ánh trăng là thơ của Hàn Mặc Tử, không phải của ông. Ông không là một thi nhân, ông là một nhà viết sử. Trăng đã thức trong máu để Hàn Mặc Tử làm thơ và ngâm thợ Trăng đã thức trong máu của ông, chỉ để ông thấy nỗi cô đơn của ông thấm đậm hơn mà thôị

Hàn Mặc Tử, ở những ngày cuối cùng của cuộc đời, còn nói lên được, còn viết lên được những điều muốn nói, những điều muốn viết, trong sự yêu chiều an ủi của một người đẹp yêu ông. Ông ta thật có diễm phúc so với nhà viết sử Phạm Văn Sơn. Vị sử gia của tôi trong những giờ phút cuối cùng này còn có ai đâụ Ông bị cách ly thân thể, bị chối bỏ tình cảm, tuyệt nguồn tâm sự đến trơ trọi cả linh hồn.

Ngày xưa, vua Hezekiah của Do Thái -- trong Thánh Kinh -- hơn mười mấy năm bị phong hủi cũng không cô đơn bằng ông, vì ông vua này vẫn sống trong hoàng cung lộng lẫy với hằng trăm cung tần mỹ nữ hầu ha..

Có lẽ chỉ một người chịu sự cô đơn như ông là một vị bác sĩ nào đó -- một nhân vật có thật -- trong tác phẩm "Kẻ Ịộc Hành" (Man Who Walks Alone) của một nhà văn Mỹ, tôi đã quên tên, đã hy sinh suốt quãng đời đẹp đẽ nhất của mình, tình nguyện đến một phương trời xa, phục vụ một trại hủi để chữa trị bệnh nhân bằng sự hiểu biết và lòng tận tâm của mình, cho đến một ngày chính ông ta bị truyền nhiễm chứng bệnh nan y nàỵ Khi trở lại quê hương, ông lại bị hất hủi, bị bỏ quên, cô đơn như một kẻ độc hành trong cõi đời thường như hoang vắng. Dù sao vị bác sĩ đó cũng đã làm tròn thiên chức của mình, đã hưởng được sự tự do để suy gẫm về cái triết lý của cuộc sống.

Còn ông, nhà viết sử của chúng ta, ông đã cô đơn bốn bề ở kiếp con người; loài người dưới đất quên lửng ông, trăng sao trên trời xa lạ với ông. Ông là kẻ cô đơn nhất trong loài người...ở những giờ phút sau cùng.

Dêm trăng này hay bao nhiêu đêm trăng nữa sẽ cho ông nhìn thấy gì, hay ông chỉ nhìn thấy sự hoang mạc đến tận cùng của cuộc đời ông trong những ngày còn lạị Hay hơn thế nữa, ông sẽ nhìn thấy nỗi tuyệt vọng vừa nhen nhúm trong tâm sự ông, về sự không thể làm tròn thiên chức của mình, sẽ lớn dần lên, sẽ còn đày đọa ông không biết bao lâu nữạ Ịêm không ngủ dưới trăng kia có ích lợi gì cho ông không...

Thì ra tâm sự con người thật phức tạp trước những sự kiện tưởng chừng như vô tình nhất, giản dị nhất.

Lần đầu tiên sau khi gặp lại ông, tôi tưởng ông đã yên tâm vì đã tìm cho mình được một con đường, một chân lý, đến độ khi nhìn ông tôi cũng cảm thấy yên tâm. Hôm nay, bởi những sự kiện mới mẻ tưởng như vô tình, tôi mới biết ông vẫn còn ưu tư khoắc khoải, nên lòng dạ tôi xốn xang vô cùng.

Tôi đã ngu muội và thật thà ở buổi chiều hôm trước, vì vô ý thức, tôi đã đẩy tình trạng cô đơn của ông đến cao độ nhất, bởi sự phản ứng tự nhiên, chân tình bằng mấy giọt nước mắt dại khờ, non nớt, rơi không đúng chỗ, đúng lúc.

Một giọt nước đã làm tràn miệng bát.

Dáng lẽ tôi phải tế nhị giữ nó lại, tìm cách an ủi ông. Biết đâu niềm hy vọng vẫn còn là ngọn lửa, tuy nhỏ nhoi, cũng sưởi ấm lòng ông để ông cảm thấy mình vẫn còn người tri kỷ, không cô đơn, còn có ý nghĩa với mọi ngườị Biết đâu như vậy sẽ làm cho ông yên tâm hơn. Dù cái chết có đến với ông, bằng cách nào đi nữa, ông cũng cảm thấy ấm cúng trong tâm hồn.

Niềm trắc ẩn xốn xang này đã trở thành sự hối hận triền miên trong tôi suốt 15 năm qua, chưa có dịp bộc lộ cùng aị Tôi thật khổ tâm.

Lúc đó, tôi thầm cầu nguyện Thượng Dế xui khiến cho những người CS thấy rõ chứng bệnh vô cùng hiểm nghèo, nguy ngập của ông mà tha cho ông ta, cho ông được trở về với gia đình. Dó là con đường duy nhất cứu được ông, cứu được cái hoài bão mà ông từng ôm ấp bao nhiêu năm quạ

Tôi đã thất vọng, ý trời không phải là ý ngườị CS chỉ hủy diệt những nhân tài đối lập, không bao giờ nhẹ tay với một aị

Rồi việc gì phải đến, đã đến.

Một ngày, chưa hết mùa đông, đầu năm 1980 (tôi không nhớ chính xác ngày tháng), buổi sáng sớm lất phất một cơn mưa phùn nhỏ, trời lạnh và đục, người ta đã đánh kẻng tập hợp tù nhân các đội ra ngoài sân để tuần tự cho xuất trại đi lao động như thường lê.. Bấy giờ tôi ở trong đội cưa xẻ gỗ súc. Dội chúng tôi ra hiện trường làm việc -- là hai dãy nhà lợp tranh, chỉ cách cổng trại vài mươi bước -- trong vòng mấy phút. Mỗi cặp cưa gồm 2 người, tự động vào giàn cưa của mình và xẻ những thân gỗ lớn thành những tấm ván dày hoặc mỏng dùng để đóng bàn ghế, vách nhà, sàn nằm trong trại, hay đóng hòm chôn tù nhân, chết bởi nhiều cách, đa số là chết vì bệnh và kiệt sức.

Chừng chín giờ rưởi hay mười giờ hôm đó, tôi đến nhận phần sắn phụ trội (đội cưa xẻ thuộc loại lao động nặng, có thêm một phần ăn phụ trội ở giờ giải lao, nhưng bất thường) vừa định quay về giàn cưa mình thì anh bạn hôm trước đi lãnh cơm với tôi, hôm nay vừa đi lãnh sắn ở nhà bếp, nói nhỏ vào tay tôi :

- Tin buồn !

Tin buồn có nghĩa là trong anh em của chúng tôi có thêm một người vĩnh viễn nằm xuống, cũng có nghĩa là đội của chúng tôi phải xẻ thêm những tấm ván để đóng chiếc hòm tạm bợ bọc xác bạn bè, một điều không ai muốn, nhưng ai cũng tình nguyện làm để biểu lộ lòng thương xót với người đã ra đị Biết đâu rồi ngày nào cũng đến lượt mình. Tâm lý trái ngược đa đoan là thế đó.

Tôi nghe anh nói xong, định hỏi xem là ai, nhưng anh đã bảo tôi :

- Di đi...!

Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đã thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe :

- Dại tá Sơn, "xếp" của anh, chết rồi !

Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh :

- Anh nói...chết rồi, tại sao, hồi nào ?

Anh buồn bã thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp :

- Sáng nay, sau khi các đội đã xuất trại hết, "tụi nó" ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than đá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy thì kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá thì mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, hình như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết...

Anh nói tiếp :

- Giờ này có lẽ họ đã đem ông xuống nhà xác rồi !

Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm gì nữạ

Tôi như một kẻ mất hồn. Tôi đã hiểụ

Từ lâu nay, thỉnh thoảng chúng tôi thấy một chiếc xe tải chở vào trại loại than đá vụn vo thành viên tròn to như những trái "poids" lớn, dùng làm chất đốt ở bếp. Mỗi lần như vậy, họ đổ than đá ở phần sân ngoài bức tường, trước cửa vào nhà bếp. Bọn cán bộ ra lệnh cho ông hằng ngày dần dà chuyển hết những đống than đá đó vào bếp, trừ trường hợp trời mưa, phải chuyển gấp chúng cho người phu.. Như vậy, một người bệnh trầm kha như ông vẫn bị chúng vắt sức lao động đến giọt máu cuối cùng. Hôm nay ông đã ngả xuống như trăm ngàn nạn nhân khác dưới chủ trương giết người siêu dã man này trong các trại giam CS.

Sau buổi giải lao, tất cả anh em trong đội cưa xẻ đều biết về cái chết thảm thương của ông.

Ông đã mất rồi về cõi thiên đường đã mang theo sự chịu đựng và hiểu biết của ông, vốn dĩ không hề tưởng là đã có trong con người mang nhục thể. Cái gì của Thượng Dế trả về cho Thượng Dế.

Người ta ra lệnh xẻ gỗ đóng quan tài cho ông.

Tôi nhận việc ấy với những giọt nước mắt chảy dài trên má. Chỉ còn một chút đáp đền này thôi, hỡi cố nhân ơi...  



Nguyễn Văn Dưỡng
avatar
Tự Do
Members

Posts : 168
Join date : 2015-06-19

View user profile

Back to top Go down

Sử gia Ðại Tá Phạm Văn Sơn chết trong ngục tù Việt Cộng!

Post by Việt-Nam Cộng-Hòa on Mon Feb 15, 2016 1:11 pm

Lời người viết: Tôi phải viết lại bài này một lần nữa cho rõ ràng hơn. Vì rằng, vừa qua cũng có những bài viết về cái chết của Ðại Tá Sơn, nhưng phần chính không nói được tính khí kiên cường của Ðại Tá mà chỉ xoáy vào mối liên hệ tình cảm cá nhân của 2 bên với nhau…

Tôi tuy không phải là người được khiêng xác Ðại Tá đi chôn (việc chôn cất tù nhân chính trị thường do nhóm tù hình sự đảm nhận vào ban đêm, nhằm khỏi gây dư luận xôn xao…) nhưng là người đưa xác Ðại Tá Ðại Tá Sơn từ trạm xá đến nhà Vĩnh Biệt trong khuông viên nhà tù, do đó tôi rất rõ về cái chết của Ông ta.



***

Chúng tôi từ nhiều trại “tập trung cải tạo” thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm đủ mọi thành phần “nặng ký” khác nhau, trong có cả nhà Quân Sử Ðại Tá Phạm Văn Sơn đều bị chuyển xuống miền trung du, vì Trung Quốc sắp xua quân xâm lăng biên giới… Nói chung Cộng Sản đã ghép chúng tôi vào loại “ác ôn” vì trong chế độ VNCH đã phục vụ ở các ngành: Tuyên Úy, Tình Báo, An Ninh Quân Ðội, Cảnh Sát, Chiến Tranh Chính Trị, Tâm Lý Chiến…

Giai đoạn này chúng tôi không còn được đi lại dễ dàng như cảnh sống trong núi rừng hồi còn Ðoàn 776 thuộc Nha Quân Pháp (Bộ Quốc Phòng) VC trông coi… mà bị tống ngay vào buồng giam do công an “áo vàng” cai quản. Trên danh xưng bọn Công An Trại Giam (thuộc Bộ Nội Vụ VC) bắt chúng tôi phải thừa nhận mình là “Cải Tạo Viên” chứ không phải là “Tù Nhân”…

Ngay từ khi bước qua cổng để vào sân trại giam K1 Tân Lập, chúng tôi đã thấy một cái gì đó rờn rợn cả người. Mọi thủ tục khám xét thật là khắc nghiệt, nhìn mặt mày hầm hầm của những tên công an vừa nộ nạt, vừa đấm đá mấy tên tù “hình sự” phụ giúp việc khám xét các tù “chính trị” mới đến mà tất cả chúng tôi thầm nhìn nhau… lắc đầu!

Vài ngày sau khi bị gọi ra sân để chấp nhận sự “biên chế” mới, chúng tôi mới biết K1 là trại tù trước kia nhà cầm quyền “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” dùng để nhốt và tra khảo các thành phần “Ðịa Chủ, Phú Nông” ngoan cố… Ở đây có rất nhiều người đã treo cổ tự tử vì không thể sống nổi với cảnh hành hạ dã man của bọn cai tù.

Nhưng rồi chúng tôi cũng biết K1 là trại thế nào. Hôm đó lần đầu tiên trước khi các tù chính trị được xuất trại để lao động thì tên Thượng Sĩ Công An làm nhiệm vụ “Cán Bộ Giáo Dục” đã nói trước sân tù rằng:

– Tôi báo cho các anh biết, một khi đã vào trại này rồi thì phải chấp hành “nội quy” cho tốt! Ngược lại anh nào còn rơi rớt những tư tưởng phản động, chống đối “cách mạng” thì hãy liệu hồn, đừng trách chúng tôi sao lại nặng tay đối phó!… Chúng tôi cũng báo trước cho các anh biết, Trại Cải Tạo này là “trại kiểu mẫu” cho toàn quốc, nên không thể để xảy ra bất cứ một chuyện gì khiến cho các anh xao lãng trong việc “cải tạo”. Chúng tôi cũng nói thêm rằng giúp cho các anh “cải tạo tốt” là nhiệm vụ chính của chúng tôi. Vì phải làm tốt chuyện này, các anh mới sớm được đoàn tụ với gia đình, phần chúng tôi cũng một phần nào hoàn thành nhiệm vụ của Ðảng,của Nhà Nước giao… Trước khi các anh được xuất trại để lao đông, tôi thay mặt cho “trại” để nói chừng ấy lời, sau này có chuyện gì cứ đạo đạt thẳng với “cán bộ quản giáo” giải quyết, tôi không muốn các anh phải gặp tôi, vì tôi chỉ giải quyết những anh nằm ở khu “biệt giam” kia kìa… – Vừa nói hắn ta vừa chỉ tay về phía các hầm biệt giam ở khu cuối sân trại.

Không khí “cải tạo” do công an thuộc Bộ Nội Vụ cai quản làm chúng tôi ngột ngạt thật. Mấy ngày sau chúng tôi mới biết từ miệng các tù hình sự, các cảnh sát bảo vệ (mang súng dẫn “đội tù” đi lao động) như sau: Trại Tù Tân Lập là trại tù khét tiếng khắc nghiệt nhất tại miền Bắc, còn phân trại K1 là trại “điểm” của tỉnh Vĩnh Phú này.

Tỉnh Vĩnh Phú có 2 trại tù lớn đó là Tân Lập và Phong Quan, nhưng Tân Lập lớn hơn (7 phân trại) và được Bộ Nội Vụ (Hà Nội) chọn làm trại tù kiểu mẫu cho toàn quốc.

Như chúng ta ai cũng biết chuyện “kiểu mẫu” của một trại tù dưới chế độ Cộng Sản luôn luôn phải hiểu rằng sự hà khắc, sự dã man do bọn cai tù áp dụng đối với tù nhân phải thật tàn bạo nhất mới được nâng lên làm “trại kiểu mẫu”. Phân Trại K1 Tân Lập đạt đủ các “tiêu chuẩn” gian ác đó, nên hàng năm mở Ðại Hội Tù Nhân luôn được giữ lá cờ đầu. Người viết hơi dông dài về Trại Tù K1 vì chính Sử Gia Phạm Văn Sơn đã bị chết ở trại này.

Chúng tôi bị giam ở trại này từ tháng 10/1978, vì lúc đó những vùng biên giới phía Bắc là mục tiêu của quân Trung Quốc lăm le xâm chiếm. Thật không may cho chúng tôi lại bị về ngay Phân Trại K1 Tân Lập (Vĩnh Phú) này. Và quả thực vào đầu Xuân 1979, Trung Quốc đã xua quân xâm chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam để dạy cho Việt Nam Bài Học Thứ Nhất! (Lời của Hoa Quốc Phong, Bí Thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc lúc đó).

Trong số các tù nhân chính trị từ Hoàng Liên Sơn bị đưa về trại tập trung quỷ tha ma bắt này, có Ðại tá Phạm Văn Sơn, tác giả của bộ Quân Sử thời VNCH, ông ta không chỉ là tác giả của Bộ Quân Sử mà còn là tác giả của nhiều bộ sách sử khác như Việt Sử Toàn Thư, được nhiều sử gia khác thán phục.

Mặc dầu bị nhốt cùng chung cùng một trại, nhưng lúc đầu anh em chúng tôi chưa biết hết nhau lắm, còn đối với Cộng Sản thì chúng quá rõ về lý lịch từng người chúng tôi. Họ phân chia chúng tôi thành nhiều đội theo “tội trạng” để nhốt chung vào một phòng và là Nhà (Phải gọi là “nhà” chứ không được gọi là phòng vì gọi “nhà” để phân biệt với “phòng” chỉ dùng cho “phòng giam”, phòng biệt giam”… Trong chúng tôi có nhiều người đã mỉa mai: “phòng hay nhà gì cũng thế, cũng để nhốt tù chứ có gì khác đâu!”. Câu chuyện chỉ nhằm vui tếu như thế thôi, nhưng nếu đến tai công an thì dĩ nhiên người đó phải bị “viết kiểm điểm”, nếu bị ghép vào tình trang “nghiêm trọng” thì phải bị vào “phòng biệt giam” thật chứ không được ở trong Nhà Số… nữa rồi.

Phòng giam tập thể, hay nhà giam gì đi nữa cũng đều được bao bọc bởi 4 bức tường kiên cố, trần phòng giam được rào chằng chịt bởi những lớp kẽm gai , tất cả che khuất bằng tấm “pla – phông” cứng cáp. Các cửa sổ của phòng giam đều có những song sắt ngang dọc có đường kính chừng 18mm. Phòng giam tập thể nào cũng có một lối đi chung ở giữa, dọc theo tường của phòng là 1 dãy sạp dài 2 tầng dùng làm chỗ ngủ cho tù nhân. Mỗi phòng giam chứa khoảng 200 tù nhân, tính trung bình mỗi tù nhân có chừng 0.4m bề ngang để nằm, do đó các tù nhân thường nằm ngược đầu nhau mới có thể cựa mình được.

Lúc đầu thì Ðại Tá Sơn cũng như các anh em khác ở chung trong đội lao động. Chừng nửa tháng sau, không hiểu tình hình thế nào mà Ðại Tá cùng Cha Thịnh (Ðại Tá Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo), Mục Sư Kỳ (Ðại Tá Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Tin Lành) và một người khác nữa tôi quên tên bị đưa vào phòng “cách ly”. Ðể giải thích chuyện này, Công An Trực Trại K1 Tân Lập nói rằng: Ðể tránh “lây lan” cho các “cải tạo viên” khác, nên người này phải được cho ở riêng… Trên thực tế, Mục Sư Kỳ bị vàng da, Cha Thịnh bị bệnh “đồi mồi” loan đốm ở vùng môi và cằm, Ðại Tá Sơn cũng bi bịnh này nhưng nặng hơn (khắp cả tay chân mặt mày), bọn cai tù cho đây là bệnh “phong cùi”, người còn lại ở đâu chuyển về, lai lịch không rõ, anh em chúng tôi ai biết…

Bệnh trạng chỉ có thế nhưng đều bị đưa ra giam riêng biệt với người lạ mặt, chính cá nhân tôi rất nghi ngờ… Trong tù chuyện nghi ngờ việc làm của Ban Giám Thị Trại là việc ngu xuẩn, nên có nghi ngờ thì chỉ để bụng mà thôi, nếu đem tâm sự với người khác, biết đâu chừng lại tự đưa mình vào tình trạng cách lý nặng hơn: “Biệt Giam”.

Tôi có hỏi một cán bộ y tế (Chuẩn Úy Công An lo về y tế trại Tân Lập) khi đến công tác tại trạm xá tù K1:

– Thưa Ban (đây là câu nịnh hót rất được lòng các tên công an cấp nhỏ, vì với cấp bậc ấy anh ta chỉ được gọi là cán bộ mà thôi. Ban chỉ dùng cho cấp “thủ trưởng” như Trưởng Trại chẳng hạn), các anh ấy có cần cho người vào dùng nước muối để rửa mụn ghẻ hằng ngày không ạ?… Biết đâu chừng nó hết bệnh ngay đấy!

Tên Công An nói với tôi:

– Tình trạng các anh ấy không gì đâu, nhưng dầu sao cũng phải “cảnh giác”… chúng tôi lo cho các anh bị lây đấy thôi…

Rõ ràng chuyện bệnh tật của 4 người này chỉ là một trong trăm ngàn lý do mà Việt Cộng áp dụng nhằm ngăn cách những người nguy hiểm nhất trong tập thể anh em tù chúng tôi, vì sau khi gom 4 người đó vào với nhau rồi, họ thấy việc làm quá trơ trẽn nên mới đưa thêm một Thiếu Úy Ngành Quân Báo còn trẻ, bị mụn nhọt làm thối ngón út của bàn chân trái, vào ở chung để lý giải danh xưng “bệnh cùi” cho hợp lý.

Phòng “cách ly” bây giờ gồm 5 người sinh hoạt chung với nhau, không được phép ra ngoài, đến giờ cơm nước, tù hình sự mang đến, không cho bất cứ tù chính trị nào lai vãng lại gần, mặc dù phòng cách ly này không phải là phòng kỷ luật (Phòng kỷ luật là 1 cái hầm nổi, xây gạch kiên cố, chật hẹp, chứa tối đa 2 người, thiếu ánh sáng, có hệ thống cùm chân bằng các khoanh sắt hình móng ngựa). Tôi xin được giải thích thêm chỗ nầy là tại sao bọn công an cai ngục không cho tù chính trị lai vãng tới gần phòng cách ly mà tôi lại được đến nơi đó… Thường thì sau giờ tất cả các tù nhân theo “đội” đi lao động, toi ở nhà đi kiểm soát vệ sinh từ phòng giam này qua phòng khác nên lén tiếp xúc với những người trong phòng cách ly thì rất dễ dàng. Nếu gặp công an VC thì nói là mình trên đường đi xem vệ sinh tại phòng cách ly xong mới ghe vào “đội” Nhà Bếp (anh nuôi) để kiểm soát vệ sinh tiếp (Trại K1, Tân Lập, lúc mới về có phòng cách ly sát vách với khu nhà bếp, về sau dời xuống sau lưng trạm xá).

Chúng tôi biết rất rõ là không phải vì lý do “lây lan” mà VC nhốt cách ly các vị này lại mà là vì cố tình ngăn ngừa các mầm mống có thể gây nguy hiểm về an ninh của trại giam (những người này đều là những người lãnh đạo tinh thần nên lời nói của họ rất có giá trị đối với anh em tù nhân)…

Ðại Tá Phạm Văn Sơn là tác giả của bộ quân sử, ông có trình độ hiểu biết cao về lịch sử, về mọi diễn biến của quân đội Việt Nam qua từng thời đại một cách rõ ràng. Riêng môn “Sử Học”, Việt Cộng cho là quan trọng vào bật nhất ở bất cứ thời đại chính trị nào. Sau khi ra khỏi tù, tôi có đọc những sách sử do Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng viết, họ đánh giá rất cao về công trình nghiên cứu bộ Quân Sử VNCH do Ðại Tá Phạm Văn Sơn viết.

Ngày 2 buổi, trong khi anh em tù nhân chính trị khác làm kiếp lao động khổ sai, thì trong phòng “cách ly”, 4 vị “bự” này phải viết kiểm điểm, nhất là Ðại Tá Phạm Văn Sơn, ông phải trả lời hết mọi câu hỏi mà Việt Cộng (cán bộ chấp pháp trung ương từ Hà Nội về làm việc) đặt ra, gọi là lấy khẩu cung, nhưng thực chất họ có dụng ý muốn tìm hiểu để học hỏi thêm.

Thường thường cứ mỗi 3 tháng, Ban Giám Thị trại giam có tổ chức vài ba ngày học tập gọi là “bồi dưỡng chính trị” là anh em chúng tôi đã thầm nói với nhau : “Lại phét nữa rồi”. Tôi nhớ rõ, mỗi lần “được” lên giảng đường để nghe “cán bộ bồi dưỡng chính trị” là mỗi lần chúng tôi thấy khỏe hơn, vì khỏi lên rừng phá nương, ra rẫy đào hốc trồng sắn, xuống ruộng thay trâu kéo cày kéo bừa… Và còn vui hơn nữa, là được phát biểu cảm nghĩ về nội dung bài học. Chính những lúc phát biểu như thế này, chúng tôi mới có dịp biết được sự thiếu hiểu biết của họ.

Trong anh em chúng tôi, có người vì muốn qua loa cho xong chuyện, nên khi được phát biểu đã làm đúng như sách vở, nghĩa là làm đúng theo nội quy thứ tự :

– Xác định tư tưởng (đứng về phía cách mạng, an tâm tin tưởng vào đường lối chính sách, v.v…).

– Học tập tốt, lao động tốt, phấn đấu đạt chỉ tiêu từng ngày từng giờ.

– Chấp hành nội quy không bao giờ sai phạm mặc dầu chỉ là 1 lỗi nhỏ.

– Chuyển biến: Ðã làm được những gì trong học tập cải tạo vừa qua, phát huy những mặt tốt, khắc phục và luôn luôn phấn đấu vượt qua những tồn tại, biết kiểm điểm bản thân mình và bạn cùng nhau giúp đỡ cải tạo tốt… Cũng có những anh em tù chơi trội hơn trong mô hình trên ở mục liên hệ bản thân, mục đích duy nhất là vạch trần sự thiếu hiểu biết của cấp cán bộ giảng dạy chính trị Việt Cộng bằng cách đặt ra những chuyện nghe thật hấp dẫn của thời VNCH, như trường hợp Trung Tá Phan Lạc Phúc (tức Ký giả Lô Răng, hiện ở Úc)… phát biểu trong buổi học tập 8 điều áp dụng cho “tù hàng binh”:

– Tôi có đọc 1 bài bình luận ở báo chí phương Tây hồi trước giải phóng, thì việc chia nhau quyền lãnh đạo thời “Mỹ – Ngụy” có thể gồm 3 giai đoạn… Giai đoạn 1 là giai đoạn Chí Sĩ lãnh đạo, giai đoạn 2 là giai đoạn Tướng Sĩ lãnh đạo, và giai đoạn 3 là giai đoạn cuối đó là giai đoạn Tiến Sĩ…”. Một sự ngạc nhiên đến cho toàn hội trường, phe ta thì biết ngay anh chàng đang dùng đường quyền “duy vật sử quan” để “logic” cách phịa chuyện của mình. Riêng các tên cán bộ Việt Cộng há hốc mồm nhìn bạn Phúc gật đầu. Tối hôm đó, bạn Phúc ta bị một phen hết hồn vì có một tên mũ cối đến cửa sổ phòng giam, với một giọng trịch thượng gọi lớn vào:

– Anh nào là Phan Lạc Phúc! Ra đây tôi bảo.

Ðêm khuya mà nghe có công an gọi mình, anh chàng Phan Lạc Phúc có vẻ hơi run định giả vờ như không nghe thấy… thì một bạn tù cùng phòng, nằm sát cạnh cửa sổ đã gọi tiếp:

– Phúc ơi! Cán bộ gọi anh kìa!

Không tránh được nữa, Phúc đành bước tới gần cửa sổ, hỏi:

– Thưa cán bộ, cán bộ cần gì ạ?…

– Anh là Phan Lạc Phúc? ố Tên công an gắt giọng.

Nghe nạt nộ, Phúc hơi run, nhưng vẫn trả lời:

– Dạ đúng tôi đây…

Tên công an dõng dạc ra lệnh:

– Ðây là cây đèn cầy, mấy tờ giấy, trong đêm nay anh phải dùng mấy trang giấy nầy viết hết những gì mà anh phát biểu phần liên hệ bản thân sáng nay… Sáng mai đưa sớm cho tôi trước khi đi lao động…

Phúc hú hồn, một tay cầm cây đèn cầy, tay kia cầm mấy tờ giấy đi về chỗ nằm… Thấy một người bạn nằm kế cạnh Phúc buột miệng nói:

– Thần khẩu buộc xác phàm rồi đó ông nội ơi!

Một chuyện khác nữa, đó là chuyện của bạn Nguyễn Văn Diệp (Khóa 3 BTVốCSQG đang ở San Jose, USA), cũng tại một buổi “bồi dưỡng” khi đứng trên bục giảng để lên lớp, tên cán bộ muốn dò xem thử trình độ hiểu biết về triết học của các “sĩ quan ngụy” như thế nào, hắn ta nhìn xuống anh em tù nhân, hỏi:

– Này nhá, các anh có biết từ “Tiếp Thu” đến “Nhận Thức để có thể Chuyển Biến tốt” phải cần có yếu tố gì làm cầu nối?

Tên cán bộ vừa dứt câu trả lời, Diệp liền đưa tay phát biểu. Chờ sự đồng ý của hắn ta, Diệp dõng dạc:

– Thưa cán bộ, phải cần có yếu tố “tình cảm”!

Nói dứt câu, Diệp ngồi xuống, không cần chờ kết luận của tên công an đặt câu hỏi đố. Thấy câu đáp của Diệp quá chính xác, tên này khen rối rít, vì anh ta không ngờ trình độ của sĩ quan “ngụy” lại cao và giỏi đến thế, nhưng anh có biết đâu về cách chơi chữ “tình cảm” của Diệp (chơi chữ như thế nào thì độc giả cứ hỏi thẳng bạn Diệp, vì chỉ có anh ta mới trả lời chính xác câu nói này).

Trái ngược lại, đối với Ðại Tá Phạm Văn Sơn, anh không bao giờ được phát biểu bất cứ điều gì để cho mọi ngươi cùng nghe, có chăng chỉ xảy ra riêng tư giữa ông ta với viên chấp pháp mà thôi…

Cuộc sống của 5 người cùng “phòng cách ly” vẫn ngày tháng trôi đều, cơm 9kg/tháng, chia làm 2 bữa cho 1 ngày (tiêu chuẩn này áp dụng cho những người bị kỷ luật). Trên thực tế, tiêu chuẩn 9kg đã không đảm bảo cân lượng mà còn bị thay thế bằng sắn (củ mì) khô và bobo, bắp hạt… tuổi già nếu cứ nhắm mắt nuốt đại vào, thì sẽ bị rách cuống cổ như chơi, chưa nói khi chúng rớt vào dạ dày sẽ không tiêu được, nên khi thải ra ngoài vẫn còn nguyên dạng…

Trưa, tối, bọn hình sự đem cơm tới, mỗi sáng thì ghé xem bên trong có ai bị việc gì không, tiện thể lấy phân để đem nó ra bón rau cải ở khu lao động, thỉnh thoảng năm ba ngày tên cán bộ trực trại cho họ đi tắm một lần trong giếng gần “đội nhà bếp” (tù nhân đi lao động bên ngoài thì thường ngày tắm rửa ở các hố nước nuôi cá, trâu tắm, sau khi đã rửa sạch các thúng gánh phân người để bón cây trồng trong ngày hôm đó)… Cha Thịnh, Mục Sư Kỳ thì trầm ngâm hơn, lâu lâu thở dài cho đoạn ngày đoạn tháng của cảnh tù đày, riêng Ðại Tá Sơn thì viết liên tục, những bài viết của ông được bọn Việt Cộng cất giữ kỹ, không một ai được xem, ngay cả những người cùng buồng.

Mấy tháng trôi qua, một hôm cán bộ Việt Cộng phát hiện trong bài viết về lịch sử, khi so sánh 2 chế độ “tù” thời VNCH và thời XHCN, họ cho đó là một việc làm “đại phản động hay cực kỳ phản động” gì đó… nên Ban Giám Thị Trại Tân Lập “đặc biệt chiếu cố” bằng quyết định “mật” cho anh Sơn vào ngay hầm biệt giam tại K1. Tất cả anh em chúng tôi khi vi phạm điều gì đều bị gọi tên ra trước sân, tên công an làm cán bộ trực trại đọc lệnh giam: bị giam kỷ luật … ngày: cùm 1 chân, hay cùm 2 chân”, tùy theo mức độ vi phạm nhẹ hay nặng… trước sự chứng kiến của toàn thể tù nhân trong trại hôm đó. Riêng trường hợp Ðại Tá Sơn thì quá đặc biệt, ngay cả Cha Thịnh và Mục Sư Kỳ cũng không biết nốt. Cả hai vị này khi gặp tôi chỉ nói rằng:

– Họ chuyển ảnh đi đâu mất rồi, vì có đem theo hết tất cả đồ dùng cá nhân… Ngay như tôi lúc đầu cũng không biết, mặc dầu tôi được thay mặt anh em làm trong “ban thi đua” phía bên tù chính trị, thường hay đi kiểm tra vệ sinh khắp các phòng giam trong trại…

Tôi xin mở ngoặc về “Ban Thi Ðua” của trại tù K1 Tân Lập một chút:

“Lúc đầu thi đua chỉ gồm toàn tù hình sự, họ đa số phạm những tội như cờ bạc, trộm cướp, hiếp dâm, giết người, bộ đội, cán bộ nhà nước hủ hóa, tham nhũng… Mọi sự đối xử của họ đối với chúng tôi mang tính dã man, vô học, gây nhiều phẫn nộ luôn được bọn cai tù “bật đèn xanh”. Nhờ có sự bê bối của các tên tù như Phú, Ninh trong Ban Thi Ðua ăn chận bớt thịt cá làm hụt phần cấp cho các tù chính trị, bị anh em “đội nhà bếp” kêu ca, cán bộ quản giáo của đội này cho bắt quả tang Ninh và Phú lấy thức ăn cất giấu nơi ở của 2 hắn ta (chuyện này bạn Hoàng Xuân Lưu lúc đó làm Ðội Trưởng đội Nhà Bếp biết rất rành, và anh ta cũng bị kỷ luật lây). Thấy nhóm hình sự có những hành động gây tác hại lớn cho việc an ninh của trại, nên Trại thấy cần phải có những “thường trực thi đua” là người bên nhóm tù chính trị mới tranh khỏi xung đột có thể gây án mạng giữa hai nhóm tù này. Lúc đó tên Thượng Sĩ Công An Bổn (cán bộ Giáo Dục trại) – người chủ trương không để tù nhân chính trị làm thi đua được đi “bồi dưỡng” nghiệp vụ ở Trại Hà Tây (chứ không phải được đi học bên Liên Xô) nên tên Thượng Sĩ Công An Hồng lên thay, chấp nhận tăng cường 3 tù nhân chính trị làm thường trực thi đua (Lúc đó đã được 7 tháng từ khi K1 Tân Lập đảm nhận việc nhốt tù chính trị chúng tôi). Ba người được tăng cường đầu tiên là tôi và Kính (CTCT) và Lập K5-BTV/CSQG. Cường (K3-BTV/CSQG, hiện ở Canada) thì được tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) xin thêm để làm phần hành “văn hóa” (thay thế cho Hùng hình sự hay đánh các tù nhân khác) chứ không phải thường trực thi đua (việc này có ký giả Nguyên Huy – Nhật Báo Người Việt biết). Thời gian sau. thường trực thi đua được tăng cường thêm LV Ðàn (Trung Tá Nhảy Dù), Cường thì được đưa về K3 (Tân Lập), tôi thì bị đưa về Trại Giam Hà Tây tiếp tục “cải tạo”. Từ đó trở đi tôi không còn biết gì về hoạt động của thường trực thi đua ở K1 Tân Lập nữa…

Nhàn là một tên “đâm thuê, chém mướn, lừa đảo, cờ bạc”. Tên này vẫn làm Trưởng Ban Thi Ðua để kèm kẹp chúng tôi, hắn biết rõ việc của Ðại Tá Sơn (y là người đưa cơm hàng ngày cho Ðại Tá Sơn khi bị cùm trong phòng biệt giam, vì công an VC không tin tù chính trị như chúng tôi). Thấy tên Nhàn này hay rù rì với Cường, nên tôi đâm ra nghi ngờ… Với Cường thì tôi không thể tìm hiểu được rồi, vì lỡ đổ bể chuyện gì thì anh ta bị cùm ngay mà tôi cũng vạ lây, thôi thì phải tìm biết mọi chuyện cần biết nơi Nhàn khi có dịp thuận tiện…

Một hôm Nhàn than phiền với tôi:

– Cái tên Sơn này cứng đầu… từ hôm bị biệt giam đến nay không chịu ăn chịu uống gì cả, lại còn phóng uế bừa bãi, linh tinh… thối chịu “đếch” được!

Thấy có cơ hội, tôi nói ngay:

– Thế anh đưa cơm hằng ngày cho hắn ta, hắn ta có chửi mắng gì anh không?

– Anh ta đâu có thèm nói năng gì mà chửi với không chửi… Chỉ cái tội viết bậy mà vào cùm nên khổ thân đấy thôi! Các anh bảo nhau mà liệu hồn!

– Tôi nghe nói khi ở phòng cách ly, anh ta được viết những gì đúng theo cán bộ yêu cầu kia mà?

– Thì đương nhiên phải đúng yêu cầu, nhưng diễn ta mặt tích cực thì được, đằng này cứ phanh phui chuyện tiêu cực thì hỏng ngay…

Tôi giả vờ:

– Như thế nào là tiêu cực? Anh cho tôi biết để còn giữ mình có thể cải tạo tốt không chỉ riêng bản thân mà còn giúp anh em khác nữa chứ?…

Nghe tôi hỏi có lý, tên Nhàn vênh mặt có vẻ như một cán bộ công an khi lên lớp cho các tù nhân:

– Anh ta khờ lắm! Viết gì không viết lại việt bài có nội dung đem so sánh hai chế độ tù giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Xã Hội… còn đem chuyện gian trá trong việc trao trả tù binh của hai bên ra phân tích… Chơi kiểu này thì chết thôi con ạ!

Chừng 4 ngày sau, tôi giả bộ đi ngang qua khu cấm này gọi là coi xem có vấn đề gì cho an ninh trại hay không (tôi có báo cho tên cán bộ trực trại biết; tên này dặn thêm: Anh phải cẩn thận chứ “tên Sơn” khá nguy hiểm đấy nhé), cũng từ câu nói của tên này, tôi mới xác quyết rằng Ðại Tá Phạm Văn Sơn đang bị kỷ luật.

Làm bộ như đang đi lo việc quan sát phía bên ngoài các phòng kỷ luật, nhất là ở các lỗ có song sắt và lấy tay giật giật thử có còn chắc hay không, cái nào bị mục cần thay để có cớ báo lại cho tên trực trại, hoặc tình hình có ai “quan hệ” với những người bị kỷ luật (đa số là bọn hình sự) hay không?…

Nhìn quanh thấy không có ai, tôi nói nhẹ vọng vào:

– Anh Sơn, em là Q. đây, anh khỏe không? Ðói lắm không? Em vứt vào nửa cái bánh bột nhé!

Giọng thật nhỏ, yếu, vọng ra:

– Q. đó hả?

(Sở dĩ anh Sơn, Cha Thịnh, Mục Sư Kỳ biết tôi vì hồi họ chung sống tại khu cách ly, tôi là người hay đến nói chuyện, lại nữa âm thanh lời nói của tôi cũng dễ nhận, nên bên trong dầu không thấy người cũng an tâm vì “không thể trao thân lầm tướng cướp” được).

– Tôi không cần gì cả, đừng vứt vào, bọn chúng đến kiểm soát thì chết cả lũ, ráng phải lo giúp các bạn khác nữa… Hôm nay đã 4 ngày tôi nhịn ăn rồi, ít hôm nữa thì anh sẽ rõ những việc tôi làm, anh mau đi khỏi đây, và từ nãy giờ coi như anh chưa lại chỗ tôi, và cũng đừng nói với ai là tôi đang ở đây, nếu lỡ việc ra thì anh sẽ bị nguy, mà ngay chính tôi cũng không thể thực hiện ý nguyện của mình…

Tôi rón rén bước về phía các phòng giam khác để gọi là đi kiểm soát tổng quát… Sau giờ xuất trại đi lao động chiều hôm ấy (Trại đang cho các đội thi đua nhau đào hốc trồng sắn), một tên tù hình sự đến nói với tôi:

– Chú à, cháu đề xuất với chú chuyện này khó khăn thật đấy, nếu vỡ ra thì cháu chết ngay, nhưng nếu không nói thì không được.

Tôi bảo ngay:

– Mầy lại lèng èng chuyện gì đây, linh tinh nữa phải không? Nhanh lên kẻo đến giờ tao phải phát dầu cho các buồng rồi đây!

Tên hình sự ngập ngừng:

– Vâng ạ, vâng ạ! Chú Sơn bảo chú cho chú ấy xin tờ giấy trắng, còn cháu thì có cây bút chì để chú ấy viết cái gì gì ấy mà…

Tôi như điếc cả 2 lỗ tai, không biết nghe có lầm không, nếu nó gài mình thì ngày mai lại phải vào cùm, nếu nó thật lòng thì mình phải làm sao đây? Tôi giả vờ nạt nộ một hồi, xong nói tiếp:

– Thôi, tao không giải quyết được việc gì đâu, tao bận lắm, mầy ở đây coi văn phòng giúp tao một tí, đừng cho giấy tờ trên bàn gió bay lộn xộn, và không cho bất cứ ai sờ vào món gì cả nghe chưa? Tao phải xuống bệnh xá một tí là về ngay!

Nói xong tôi đi thật vội, không dám nhìn lại cho đến khi phải trở về lấy dùi trống đánh lên 3 tiếng gọi các “trực sinh” (danh xưng dùng cho những tù nhân lo việc vệ sinh, cơm nước cho anh em tù khác ra ngoài lao động) của các phòng đến nhận dầu về thắp trong đêm, chủ yếu để có lửa hút thuốc lào…

Ngoài ra, trong đêm, có ánh sáng leo lét của ngọn đèn tuy làm bằng vỏ chai cưa cổ, nhưng cũng giúp được nhiều việc như rủi có anh em nào đau nặng, cần cấp cứu là phải hô to: “Báo cáo cán bộ, phòng X có người đau nặng, xin được cấp cứu”. Hô to lên như vậy nhiều lần cho tới khi các tên cán bộ vào mở cửa thì anh em mới có thể thấy đường để khiêng người bệnh lên trạm xá. Nếu bệnh quá nặng thì để lại luôn tại trạm xá, nếu bệnh nhẹ hơn thì chỉ nhận 2 viên “xuyên tâm liên” rồi phải khiêng trả lại phòng giam ngay. Nói là “trạm xá” cho oai thôi, chứ thật ra cũng vẫn là một phòng giam bị khóa cửa cẩn thận như mọi phòng giam tù khác. Có nhiều anh em tù chính trị được cấp cứu trong những đêm như vậy, sáng hôm sau đã phải vĩnh viễn ra đi, có khi ngay tại trạm xá, đôi khi ngay tại phòng giam chung. Nói chung, tù chính trị chết nhiều hơn tù hình sự. Gần 2 năm bị giam tại trại Tân Lập, tôi chưa gặp một trường hợp nào tù hình sự bị mạng vong cả.

Hai ngày sau nữa (Tổng cộng 6 ngày), tên cán bộ trực trại gọi tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) đưa 2 tù hình sự khỏe mạnh khiêng Ðại Tá Sơn từ phòng Kỷ Luật xuống trạm xá (lúc đó đã 8g tối, các tù nhân khác đã vào chỗ ngủ). Màn đêm xuống, từ lâu… Tại trạm xá chả có thuốc men gì để giúp cho Ðại Tá Sơn khỏe lại mặc dầu biết Ðại Tá kiệt sức vì nhịn đói lâu ngày… Thế rồi Ðại Tá bắt đầu đi vào mê sảng… Ðến 2g sáng hôm sau, Ðại Tá Sơn được đưa về lại Phòng Cách Ly cùng với Cha Thịnh, Mực Sư Kỳ, nhưng lúc này ông ta yếu lắm rồi, không nói được lời nào với các người chung phòng. Tình trạng dần dần đi vào mê man… cho đến 8 giờ sáng hôm sau.

Thường thì 7 giờ 30 sáng tên công an làm cán bộ trực trại vào mở cửa phòng cách ly để những người này làm vệ sinh cá nhân, sau đó phải vê than đá bột lại thành từng nắm vừa trong hai bàn tay, đem phơi khô để những người bạn tù thuộc đội nhà bếp lấy về đun bếp. Công việc “vê” than này chỉ dành riêng cho 5 người trong phòng cách ly mà thôi. Hôm đó anh chàng Thiếu Úy Quân Báo, sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, thấy Ðại Tá Sơn quá yếu sợ để nằm trong phòng sẽ ngộp thở vì thiếu không khí, nên đã đề nghị mấy người còn lại phụ khiêng Ðại Tá Sơn ra bên ngoài bên đống than đang “nắm” dở… để hưởng chút không khí trong lành. Lúc đầu Ðại Tá còn gượng ngồi được giống như một người đang làm việc “nắm” than như nhiều người khác…

Ngoài sân trại, lệnh xuất trại đi lao động được tên công an trực hách dịch ban hành, thì cũng là lúc Ðại Tá không còn ngồi nổi nữa, ông gục mặt trên đống than dang dở, và bất động… Cũng đúng lúc đó anh tù chính trị làm ở nhà bếp Nguyễn Văn An (BTV Khóa Rạch Dừa) đem xe cải tiến đến… Thay vì chở than về đun bếp, anh ta phải dùng ngay xe nầy để chở Ðại Tá Sơn lên trạm xá cấp cứu… Khi vượt qua sân trại thì đúng vào lúc chỉ còn một đội tù cuối cùng xuất trại, những người đi sau ngoái đầu nhìn ngơ ngác, không biết chuyện gì đã xảy ra… An kéo Ðại Tá Sơn đến trạm xá, những người tù trong này chạy ra để phụ khiêng vào cấp cứu… lúc đó Ðại Tá đã tắt thở rồi…

Ðại Tá Phạm Văn Sơn đã vĩnh biệt anh em như vậy đó!

Khoảng 11 giờ trưa khi tất cả các tù nhân còn đang ngoài bãi lao động, thì xác Ðại Tá Sơn được nhóm tù hình sự và tôi đưa đến “nhà vĩnh biệt”, một cái chòi mái lợp tranh, vách tô bằng đất sét nhồi với rạ do chính anh em tù chúng tôi dựng lên phía Tây đằng sau khu nhà giam của chính mình.

Những bộ quần áo tù rách nát, vá víu chằng chịt được khoác thêm vào người anh Sơn để gọi là tạm ấm khi phải trở về lòng đất lạnh. 8g tối, các phòng giam của khu tù chính trị được khóa cẩn thận, thì cũng là lúc chiếc hòm bằng cây “vông đồng” sần sùi, tồi tàn đựng xác Ðại Tá được đặt trên xe “cải tiến”, một loại xe do 1 người kéo, 2 người đẩy, có nơi còn gọi là xe “cộ” (hình thức giống hệt như chiếc xe dùng cho trâu, bò kéo nhưng nhỏ hơn), do 4 tên tù hình sự kéo đẩy đi. Họ chôn anh Sơn cạnh bên kia bờ suối nhỏ, phía bên này là một rừng sắn đang tươi tốt cao ngang lưng, thành quả lao lao động bằng máu và mồ hôi trong những ngày khổ sai của số người còn sống sót…

Tin về cái chết của Ðại tá – sử gia Phạm Văn Sơn được giữ kín. Ðiều này chứng tỏ đã không có sự bình thường như mọi lần trước khi có một trong những anh em chúng tôi ra đi.

Ðại Tá Sơn nằm xuống yên lặng như thế, nhưng mọi việc còn lại gây nhiều chấn động không phải chỉ trong anh em tù với nhau mà ngược lại có sự bàn tán, tranh luận… thể hiện ngay trong nội bộ của bọn chỉ huy trại Tân Lập (K1). Trưởng Trại Tân Lập tên Thùy (Thiếu Tá Công An), phải tức tốc từ K5 (Trại trung ương của Tân Lập) đến K1 tìm hiểu sự việc. Việc xì xầm với nhau giữa các tên Việt Cộng trực trại, giáo dục, hàng quản giáo, an ninh, về phía tù nhân có tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) cùng nhau bàn bạc tìm biện pháp đối phó… Nhờ những tên tù hình sự “phục dịch cán bộ” (lo cơm nước, giặt giũ áo quần…) về thuật lại, tôi mới biết được chút ít:

– Ðó là nội dung lá thư viết bằng bút chì trên 1 trang giấy “tự túc” (giấy màu vàng ố do tên hình sự tự ý lấy tại phòng thi đua mà tôi nói trong trường hợp nêu trên; dĩ nhiên việc này chỉ có tôi và tên tù hình sự ấy biết mà thôi, nhưng bảo tôi là người cung cấp giấy thì không thể có bằng chứng được, hắn ta tự lấy trong lúc tôi vắng mặt kia mà). Trong thư Ðại Tá Sơn nói rằng: “Xin các ông hãy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi phải nhân đạo, những hình thức dã man như vừa qua đã áp dụng hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử sẽ nguyền rủa…”.

Sau biến cố này, bộ mặt sinh hoạt tù khác hẳn, kỷ luật nghiêm ngặt hơn. Về phía ban thi đua được tăng cường thêm 2 người tù chính trị làm trật tự, các đội trưởng phải chịu trách nhiệm hết mọi hành vi của đội viên mình trong mọi nhất cử nhất động; ăn uống thì ấn định rõ ràng (vì trước đó tên cán bộ lo về phần bếp núc của anh em tù, đã trừ quá nhiều vào sự hao hụt bằng cách tự phân phối lương thực thực phẩm hàng tháng theo ý riêng của hắn ta! Tên này bị thay thế bằng 1 tên khác).

Bên ngoài tuy phải áp dụng hình thức lao động khổ sai như cũ, nhưng bên trong bọn Việt Cộng đã ngầm bảo nhau cần nhẹ tay hơn. Trước đó, việc nấu nướng riêng tư không cho phép, nay thì có lệnh mỗi tù nhân vào sáng Chủ Nhật có thể xuống bếp trại để hâm lại những thức ăn riêng, nhưng phải biết chia nhau giờ giấc tránh cảnh gây ồn ào xáo trộn.

Hôm nay ngồi suy ngẫm lại chuyện cũ thì cái chết của Ðại Tá Sơn nào có khác gì những anh hùng Nguyễn Tri Phương (Thà nhịn đói chịu đau mà chết chứ không bao giờ khuất phục giặc Pháp), Hoàng Diệu (Lên thành treo cổ tự vẫn chứ không đầu hàng)… Ðại Tá Phạm Văn Sơn tuyệt thực trong nhà kỷ luật, chấp nhận cái chết, vì muốn đòi quyền lợi cho các anh em tù nhân chính trị khác được hưởng đúng theo quy chế của một tù binh theo luật quốc tế, tuy kết quả không như ông mong muốn, nhưng dầu sao cũng làm cho những anh em còn sống được dễ thở hơn…

Với lá thư gởi cho Ðảng và Nhà Nước XHCN – nhờ Trại Tân Lập chuyển, nội dung hoàn toàn được bọn Việt Cộng giữ bí mật, nhưng tên Nhàn lỡ lời vì bị sập vào bẫy moi tin do tôi gài. Với thời gian 20-21 năm trôi qua, tôi chỉ nhớ đại khái: “Xin các ông hãy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi, những hình thức dã man như vừa qua hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử phải ghi thêm vào đấy vết ô nhục mãi ngàn đời sau cho dân tộc VN… vì đã có một thời mà người cộng sản từng đối xử dã man ngay với đồng bào, đồng loại của mình!” (Thực ra câu này, tôi chỉ viết dựa theo ý chính của tên Nhàn, còn nguyên văn thì không cách nào cá nhân tôi có thể xem được).

Ðại Tá Sơn chịu chết để cho anh em chúng tôi sống…

Viết bài này với ước mong có thể thay mặt cho các anh em cùng sống chung với Ðại Tá – sử gia Phạm Văn Sơn tại trại K1 Tân Lập, xin được thắp nén nhang vái linh hồn Ðại Tá luôn được siêu thoát.

Trường Xuân Phu Tử
Hồ Quang
avatar
Việt-Nam Cộng-Hòa
Administrators

Posts : 13
Join date : 2015-06-18

View user profile http://vietnamconghoa.forumotion.com

Back to top Go down

View previous topic View next topic Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum